(04) Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

Tháng Mười 1, 2008 at 4:10 sáng 2 comments

  • Lý Thái Hùng

Học Tập – Chấn Chỉnh Nội Bộ Hầu Đối Phó Với Các Diễn Biến Tại Đông Âu

Sau khi khai trừ Trần Xuân Bách, Bộ chính trị đã ra chỉ thị 60 về “Nhiệm vụ giữ gìn an ninh quốc gia trong tình hình mới”, và tổ chức các buổi học tập trong nội bộ để khai triển nội dung Nghị quyết 8 là: “Tiếp tục duy trì sự lãnh đạo của đảng, phủ nhận chính trị đa nguyên, tiếp tục chính sách đổi mới tăng cường công tác học tập tư tưởng để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Từ ngày 10 đến ngày 13-4-1990, Ban tổ chức trung ương đảng đã tổ chức hội nghị gồm những cán bộ chủ chốt trong các cơ quan hành chánh trung ương, tỉnh, thành. Sau đó, từ ngày 16 đến 24-4, Quân ủy trung ương đã tổ chức hội nghị gồm các chính ủy cao cấp trong quân đội. Nội dung chính của các Hội nghị là để “các cán bộ nắm vững tình hình biến động thế giới, chỉ đạo những biện pháp đẩy lùi các thế lực phản động trong chiến lược tiến công xóa bỏ chủ nghĩa xã hội”. Từ ngày 7 đến 10-5, Bộ nội vụ (nay đổi thành Bộ công an) đã triệu tập hội nghị gồm các cán bộ ngành an ninh, công an. Một trong những vấn đề nóng bỏng được đề cập trong hội nghị này là củng cố lại đội ngũ công an và mật vụ để “sẵn sàng chiến đấu trong tình hình và nhiệm vụ mới”, kế đến là vấn đề tinh thần, tư tưởng của đảng viên trong bộ máy an ninh. Song song với việc hướng dẫn công tác học tập nhằm chấn chỉnh tư tưởng trong nội bộ, Ban bí thư còn ra chỉ thị 7 điểm vào ngày 9-7-1990, kêu gọi các cấp đảng ủy mở chiến dịch “cải thiện quan hệ giữa đảng và quần chúng”, và thanh lọc hàng ngũ đảng viên, với nội dung: “Kiên quyết đưa ra khỏi đảng những đảng viên vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức, kỷ luật, thoái hóa, biến chất, tham ô lớn… Những đảng viên trình độ tác vụ quá thấp, năng lực hoạt động kém, không còn đắc dụng là đảng viên thì cũng không để ở trong đảng. Xử lý nghiêm minh theo kỷ luật đảng và pháp luật nhà nước đối với những đảng viên có hành vi tiêu cực…”

Năm 1990, CSVN dựng lên một kẻ thù mới, tên của nó là

Năm 1990, CSVN dựng lên một kẻ thù mới, tên của nó là “đa nguyên đa đảng”.

Vào giai đoạn đó, tuy Trung ương đảng phổ biến rất nhiều tài liệu, nhưng chú ý nhất là tập tài liệu “Bảo vệ an ninh chính trị và tư tưởng trong giai đoạn hiện nay” do Nguyễn Quang Phòng soạn thảo, nhà xuất bản Sự Thật phát hành tháng 11-1990, được sử dụng học tập trong nội bộ. Qua nội dung của tài liệu này, Nguyễn Quang Phòng dựng lên một kẻ thù mới, tên của nó là “đa nguyên đa đảng” do các thế lực đế quốc cổ võ theo lối “tiệm tiến hòa bình” như sau:

“Âm mưu và thủ đoạn phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đối với cách mạng nước ta nằm trong âm mưu chung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa của chúng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù của nước ta, các thế lực thù địch cũng có những âm mưu và thủ đoạn riêng. Để hiểu đầy đủ âm mưu và thủ đoạn phá hoại của địch, chúng ta tìm hiểu âm mưu của chúng đối với các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả hoàn cảnh xuất hiện những âm mưu đó. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, âm mưu nói trên của chủ nghĩa đế quốc trước hết là thay đổi chiến lược chống phá, từ chiến lược “ngăn chặn” trước đây, chuyển thành chiến lược “vượt trên ngăn chặn” (Beyond containment). Từ sau đại chiến thế giới thứ hai, các Tổng thống Mỹ thi hành chiến lược “ngăn chặn”, nhằm hạn chế việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô. Chiến lược “vượt trên ngăn chặn”mà Bu-sơ nêu ra là sự tiếp tục phát triển chiến lược “ngăn chận” nhưng “mạnh bạo, lớn hơn bất kỳ một chiến lược nào trước đây”, như Bu-sơ đánh giá. Chiến lược “ngăn chặn” chủ trương dùng các biện pháp đối đầu về quân sự, cô lập về chính trị, bao vây về kinh tế để kềm chế “sự bành trướng” của Liên Xô. Còn chiến lược “vượt trên ngăn chặn” tuy vẫn kế thừa, phát triển và tiếp tục thực hiện sự “kiềm chế” của chiến lược “ngăn chặn”, nhưng sử dụng những biện pháp toàn diện hơn, tổng hợp hơn, sâu sắc hơn và tế nhị hơn, thích ứng với những thay đổi trên thế giới, để ngăn chặn và trực tiếp phá hoại chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

“Diễn biến chính trị ở các nước Đông Âu là thủ đoạn “thẩm thấu hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đi từ những giai đoạn cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế, đối đầu về quân sự. Chúng vừa gây sức ép từ bên ngoài, vừa xây dựng lực lượng chống chủ nghĩa xã hội, và hỗ trợ cácphần tử bất mãn, cơ hội hữu khuynh từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, gây mất ổn định về chính trị, rối ren về kinh tế và xã hội. Chúng cố vũ các khuynh hướng tự do- dân chủ tư sản và dân tộc hẹp hòi, khuyến khích tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế. Chúng dùng viện trợ về kinh tế với điều kiện làm cho các nước này lệ thuộc vào các nước tư bản. Chúng cổ vũ các khuynh hướng đa nguyên chính trị, đa đảng, khuyến khích hình thành các đảng đối lập với đảng cộng sản. Đặc biệt, chúng tập trung mũi nhọn đả kích vào các đảng cộng sản và công nhân, vào các lực lượng công an và quân đội”.

“Trước đây chủ nghĩa đế quốc ngăn chặn ở ngoại vi, không cho ảnh hưởng của các nước xã hội chủ nghĩa tác động tới các nước khác, nhất là tới các nước thế giới thứ ba. Ngày nay, với chiến lược “vượt trên ngăn chặn”, chúng đánh thẳng vào trung tâm các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ngay tại chỗ. Hiện nay mục tiêu chống phá của chủ nghĩa đế quốc đối với chủ nghĩa xã hội cũng thay đổi. Mục tiêu của chúng trước đây chỉ là từng bước ngăn chặn ảnh hưởng và làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, ngày nay là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, làm cho những nước này, “hòa nhập vào đại gia đình của thế giới tự do”, “vào trật tự thế giới đang tồn tại hiện nay”…

CSVN cho rằng các biến cố Đông Âu là

CSVN cho rằng các biến cố Đông Âu là “là do các thế lực đế quốc từ bên ngoài tác động vào, chứ không phải do khát vọng tự do dân chủ của người dân vùng lên đấu tranh” !?!

Những nhận định của Nguyễn Quang Phòng về biến cố Đông Âu không khác gì quan điểm của Đào Duy Tùng, lúc đó đang là Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị phụ trách về lý luận, cho là do các thế lực đế quốc từ bên ngoài tác động vào, chứ không phải do khát vọng tự do dân chủ của người dân vùng lên đấu tranh. Họ hoàn toàn loại bỏ những nỗ lực tranh đấu đòi dân quyền và dân sinh của công nhân, trí thức và của cả những người đảng viên muốn cải cách tại các nước Đông Âu cũ. Tài liệu còn hăm dọa trong nội bộ đảng rằng: “bọn đế quốc và các thế lực phản động đặt lên hàng đầu việc phá hoại tư tưởng. Rút kinh nghiệm thành công từ sự phá hoại về tư tưởng ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng hy vọng có thể làm tan rã xã hội ta (Việt Nam) một cách dễ dàng hơn cũng bằng những âm mưu và thủ đoạn phá hoại về tư tưởng… Mục tiêu là làm cho một số người hoài nghi đối với chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước, làm nảy sinh những khuynh hướng chính trị, tư tưởng sai lầm”.

Đặc biệt, trong công tác chính trị, đảng chủ trương giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng đảng hiểu rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, đó là không chấp nhận đa nguyên, đa đảng và phải tiếp tục chiến đấu để bảo vệ đường lối, quan điểm của đảng. Ngoài ra, công tác tư tưởng còn đặt trọng tâm vào việc “quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, chính sách đổi mới của đảng và nhà nước, tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của đảng, khắc phục được tư tưởng bi quan dao động và những hiện tượng sai trái khác như phủ nhận thành quả cách mạng, hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng, chủ trương đa nguyên chính trị, đa đảng… Trong khi đó, Bộ chính trị đã tăng cường kiểm soát báo chí, xuất bản, sinh hoạt tư tưởng nhất là của giới trí thức và văn nghệ sĩ. Những ý kiến khác với Nghị quyết 7, 8 nói trên đều bị cấm đoán. Bộ chính trị còn ra lệnh giải tán hai đảng Dân Chủ và Xã Hội được thành lập theo nhu cầu “lịch sử” trước đây và đình chỉ vĩnh viễn hai tờ báo Tổ Quốc và Độc Lập của hai đảng này.

Đảng Cộng Sản Mò Mẫm Tìm Hướng Đi Mới Trong Sự Phân Liệt Nội Bộ

CSVN tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác - Lê - 16.2 kb

CSVN tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác – Lê

Trong lúc tiến hành việc “giải độc” cán bộ, đảng viên các cấp về những diễn biến xảy ra ở Đông Âu, ngay từ giữa năm 1989, Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu mò mẫm tìm một hướng đi mới, qua việc soạn thảo bản Cương lĩnh mới mà họ gọi là “Cương Lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ”, trước sự sụp đổ hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu. Theo Đào Duy Tùng thì bản dự thảo này đã thảo luận và viết đi viết lại đến 15 lần, đến tháng 8-1990, Bộ chính trị mới đem ra thảo luận rộng rãi trong Hội nghị lần thứ 9 của ban chấp hành Trung ương đảng. Tại hội nghị này, Trung ương đã quyết định phổ biến lấy ý kiến trong quần chúng, đảng viên, trước khi công bố chính thức vào đại hội đảng lần thứ 7 vào năm 1991. Nội dung của bản dự thảo Cương lĩnh không có gì mới, vẫn là những từ ngữ dao to búa lớn, tiếp tục dựa vào những nguyên tắc kinh điển lỗi thời của thời kỳ “ai thắng ai” để tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác – Lê. Bản Cương lĩnh này có 6 chương:

Chương I đề cập về “thắng lợi vĩ đại và những bài học của cách mạng Việt Nam”, kể về công lao giải phóng đất nước của đảng và khoe khoang sự thành công vì nhờ biết kết hợp năm bài học lớn: 1/giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; 2/coi sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân; 3/biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; 4/phải giữ gìn đoàn kết thống nhất của đảng như con ngươi của mắt mình; 5/coi sự lãnh đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cuộc cách mạng.

Chương II đề cập về “quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, để khẳng định quyết tâm đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, dù chủ nghĩa này đang gặp khó khăn. Dự thảo Cuơng lĩnh cho rằng bức tranh toàn cầu của thời đại ngày nay tuy có phức tạp và đầy mâu thuẫn nhưng nội dung cơ bản của thời đại này vẫn là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Vì thế để kiên định với quyết tâm đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, dự thảo Cương lĩnh đã vạch ra năm nguyên tắc: a/lấy liên minh công nhân – nông dân – trí thức làm nền tảng để xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa (trước đây chỉ có 2 giai cấp là công nhân và nông dân mà thôi); b/tiến hành công nghiệp hoá; c/đa dạng hoá về hình thức sở hữu, với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nhưng lấy quốc doanh và tập thể làm nền tảng; d/bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh thành một tư tưởng chỉ đạo ngang hàng với Mác – Lênin; e/tiếp tục giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc để tập hợp các lực lượng đứng sau lưng đảng; e/xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa là nhu cầu thiết yếu hiện nay.

Chương III đề cập về “Phát triển kinh tế xã hội”, với chủ trương xóa bao cấp và kế hoạch hóa để theo đuổi việc áp dụng nền kinh tế hàng hóa theo khuynh hướng thị trường; đồng thời tiến hành một số đổi mới về văn hoá, xã hội, giáo dục, nghệ thuật để đáp ứng cho nhu cầu mở ra của xã hội.

Chương IV đề cập về “quốc phòng, an ninh và chính sách đối ngoại”, với chiều hướng mở rộng ngoại giao toàn phương vị nhằm giải tỏa tình trạng bị phong tỏa kinh tế và cô lập ngoại giao do sự chiếm đóng Kampuchia trước đây; nhưng vẫn còn xác định là sẽ phấn đấu không mệt mỏi nhằm củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Đảng trước sau như một tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu tranh giai cấp và chống lại các thế lực phản động, với lý luận cổ điển là “ai thắng ai”.

Chương V đề cập “hệ thống chính trị” với nhu cầu hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đó đảng sẽ không nhúng tay vào điều hành sắp xếp các bộ phận mà chỉ lãnh đạo qua cương lĩnh, đường lối và những chủ trương chiến lược.

Boris Eltsine ngăn ch�n cuộc đảo chánh của phe Cộng Sản bảo thủ, dẩn đến s� tan rã của Liên Xô - 14.3 kb

19/08/1991 : Boris Eltsine ngăn chận cuộc đảo chánh của phe Cộng Sản bảo thủ, dẩn đến sử tan rã của Liên Xô

Bản dự thảo Cương lĩnh được viết ra trước khi có những biến chuyển sâu sắc lên tình hình Liên Xô (Liên bang Xô Viết sụp đổ vào tháng 12-1991) nên nội dung tuy có nhẹ nhàng so với các văn kiện trước đó, nhưng vẫn đặt nặng tin tưởng tuyệt đối vào sự tồn tại của Liên Xô để lãnh đạo khối Cộng sản quốc tế. Vì thế mà nương theo việc tổ chức các cuộc “học tập” về dự thảo Cưong lĩnh, đảng Cộng sản Việt Nam đã huy động toàn bộ lực lượng báo chí, truyền thông và những cơ quan phụ trách công tác lý luận của đảng, mở hàng loạt chiến dịch tấn công vào các chủ trương đa nguyên, tiếp tục cổ võ xã hội chủ nghĩa là một giải pháp duy nhất để phát triển Việt Nam. Cuộc lấy ý kiến này đã tạo ra sự tranh luận gay gắt giữa một số trí thức xã hội chủ nghĩa với các cán bộ phụ trách công tác tư tưởng ở trong đảng. Cuối cùng thì bản Cương Lĩnh đã được thông qua trong đại hội đảng kỳ VII vào tháng 6-1991. Tuy nhiên, vì nội dung của bản Cương Lĩnh mới không đủ thuyết phục trong nội bộ nên đảng Cộng sản Việt Nam đã phải bày vẽ ra hai điều mới vào lúc đó.

Một, đưa tư tưởng Hồ Chí Minh lên ngang tầm với chủ nghĩa Mác Lê để hy vọng làm chất keo gắn bó cán bộ đảng viên trong sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản. Họ đã gượng ép đề cao tư tưởng “bác Hồ” qua các tài liệu, sách vở ký tên Hồ Chí Minh mà nội dung chỉ toàn là sự kính cẩn nhắc lại giáo điều Mác, Lênin, Mao, và biểu hiện ra bằng sự máy móc rập khuôn theo những mô thức Liên Xô, Trung Quốc đã được chứng minh là hoàn toàn sai trật. Do đó, phần to lớn của cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh này hiện nay không được nhắc đến nữa, trừ một khẳng định là Hồ Chí Minh đã chọn theo con đường xã hội chủ nghĩa. Phần còn lại được lãnh đạo Việt cộng tô vẽ và gán những “thánh ngôn” cho Hồ Chí Minh chỉ toàn là những câu cóp nhặt từ sách Tống Nho, kiểu “cần kiệm liêm chính”, hay “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” và những khẩu hiệu trống rỗng như “độc lập, tự do, hạnh phúc”…

Hai, đưa ra chính sách dân chủ hóa từ trong đảng và kéo thêm giới trí thức vào trong thành phần chủ lực đảng, trở thành liên minh công – nông – trí thức, nhằm đối phó với thực tế bất lực và thiếu khả năng của lãnh đạo đảng. Dân chủ hóa từ trong đảng là cho phép những phê bình chỉ trích hay góp ý trong một đám quần chúng giới hạn mà lãnh đạo đảng có thể kiểm soát và tin cậy được. Mục tiêu là để vừa chứng minh rằng lãnh đạo Hà Nội sẵn sàng lắng nghe, khuyến khích đảng viên đóng góp ý kiến xây dựng đảng, vừa để giải quyết tình trạng nhũng lạm quá mức của cán bộ đảng viên, gây tai hại cho đảng.

Hệ thống lý lu�n xã hội chủ nghĩa của CSVN đã hoàn toàn gãy đổ - 12.1 kb

1991 : Hệ thống lý luận xã hội chủ nghĩa của CSVN đã hoàn toàn gãy đổ

Ngoài hai điều thêm nói trên, kể từ năm 1991, đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chủ trương dứt khoát xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường. Mặc dù phải chính thức nói ra việc áp dụng cơ chế thị trường, Hà Nội vẫn quanh co gắn thêm nhóm từ “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để che dấu sự lấn cấn về lý luận. Ngoài ra, trên phương diện chính trị, đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương xây dựng “nhà nước pháp quyền”, “xây dựng pháp luật” và đổi mới hệ thống chính trị, cụ thể là tu sửa hiến pháp năm 1980 để tạo bộ mặt bớt chuyên chính vô sản. Tuy nhiên, dù cực đoan đến mấy, Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đều thấy rõ là chủ nghĩa cộng sản đã mất giá trị kinh điển lý thuyết để dựa vào như trước. Hệ thống lý luận xã hội chủ nghĩa đã hoàn toàn gãy đổ. Hai đặc điểm then chốt là chuyên chính vô sản và kinh tế tập trung hoàn toàn mất tính cách khả thi. Và quan trọng hơn, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhận ra rằng họ không còn điều kiện quay ngược trở lại để áp đặt chúng vào khung cảnh chính trị Việt Nam nữa. Ngoài ra, đảng Cộng sản Việt Nam đã sửa đổi nhóm từ công cuộc đổi mới đang trong thời kỳ quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa thành ra là: tiến hành đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự tuột dốc về mặt tư tưởng, nhưng Bộ chính trị vẫn cố níu giữ chủ nghĩa Mác – Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, với hy vọng làm chất keo tạm gắn nội bộ và để biện minh cho việc đảng tiếp tục nắm quyền.

Đỗ Mười - 5.6 kb

Đỗ Mười

Nỗ lực của họ là tìm mọi từ ngữ, kể cả ngụy tạo nhằm nối kết được sự liên hệ giữa chủ thuyết Mác- Lê với cơ chế thị trường, để chứng minh rằng mô hình “cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là khả thi. Để thực hiện nỗ lực này, Đỗ Mười đã đại diện Bộ Chính Trị cho phổ biến một Nghị quyết mang tên: về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, vào ngày 28-3-1992, đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đi sâu tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận một cách sáng tạo, trước hết là tổng kết có lý luận những kinh nghiệm cơ bản trong cuộc đổi mới nhằm phục vụ việc chuẩn bị cho Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ và cho Đại hội đảng kỳ VIII. Việc tổng kết này là nhiệm vụ trung tâm của công tác lý luận mấy năm trước mắt nhằm làm sáng tỏ hơn nữa căn cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng mô hình về còn đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Đối với lãnh đạo Hà Nội, lý luận là một công tác cực kỳ quan trọng, bởi phối hợp được với công tác tổ chức hàng ngũ đảng viên mới yên ắng, và đảng mới có hy vọng tồn tại. “Tổng kết thực tiễn” trở thành nhiệm vụ trung tâm của công tác lý luận vì nhằm đối phó ba vấn đề: 1/Sự hụt hẫng hoàn toàn về tư tưởng và viện trợ, khi đảng vẫn quan niệm dựa vào Liên Xô như là cây cột chống trời xưa nay. 2/Ngày nay, quốc tế cộng sản đã chết mà không chịu giẫy trước, chỉ còn lại trên thế giới 4 nước không thể dựa lưng nhau, trong lúc Mỹ trở thành độc tôn của thế giới đa cực về kinh tế, nhưng đơn cực về chính trị. 3/ Các bức màn sắt màn tre đều đua nhau sập trước kỹ thuật truyền thông hiện đại. Dữ kiện về các biến động thế giới chỉ vài tiếng đồng hồ là tới Việt Nam. Riêng các dữ kiện trong nước, kể cả trong Trung ương đảng, cũng không còn bưng bít nổi như trước.

Chính vì vậy mà “tổng kết thực tiễn” lại phải xào nấu ra một món hổ lốn không thực tiễn khác. Đó là “định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội”. Gia vị của nó là tư tưởng Hồ Chí Minh, màu sắc dân tộc, kinh tế mở do nhà nước điều tiết vĩ mô, dân chủ tập trung, đảng lãnh đạo. Rốt cuộc là Bộ chính trị đã không tìm ra một hệ thống lý luận nào khả dĩ có thể cho toàn đảng thấy rõ sự thành công của hướng đi mới. Họ đã kết luận nửa vời rằng: Chúng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường không để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng, mà phải lãnh đạo, hướng dẫn điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, vì một xã hội công bằng và văn minh”. Hậu quả của việc chọn lựa hướng đi nửa vời nói trên, đã dẫn đến sự bất đồng ý kiến về mức độ và phương thức đổi mới chính trị, tạo ra sự phân hóa trầm trọng trong Bộ chính trị, chủ yếu không ở lý luận vốn chưa định hình như trên đã đề cập, mà là do thực tế điều hành, gắn liền với quyền và lợi của các phe nhóm.

Nếu ngày trước đã từng có thời tranh nhau “chuyên chính vô sản”, các Ủy viên Bộ Chính Trị đã cố vượt qua đối thủ bằng cách chứng tỏ mình là người “mác-xít” nhất, cống hiến cho đảng nhiều nhất, và đã cùng nhau đưa cả nước phá sản, thì trong cuộc đua “kinh tế thị trường”, các Ủy viên Bộ chính trị, lại phải cật lực chứng tỏ rằng chỉ có mình và phe mình mới là kẻ “nắm bắt xu thế thời đại” vững vàng nhất, “biết rõ luật chơi văn minh” sâu sát nhất, cũng gọi là cống hiến nhiều nhất vào việc bảo vệ cho đảng còn chỗ đứng, và đã đưa cả nước đến sát thềm xâm thực của tài phiệt ngoại quốc.

Phe Đỗ Mười (thân Trung Quốc và có quan điểm giáo điều) kình chống gay gắt phe Võ Văn Kiệt (thân Tây phương và có quan điểm đẩy mạnh theo xu hướng thị trường). - 13.1 kb

Phe Đỗ Mười (thân Trung Quốc và có quan điểm giáo điều) kình chống gay gắt phe Võ Văn Kiệt (thân Tây phương và có quan điểm đẩy mạnh theo xu hướng thị trường).

Trong thực tế, vấn đề trên không dễ dàng thực hiện, không chỉ vì “công lao quá khứ” mà chính là vì “quyền lợi hiện tại và tương lai” của từng cá nhân trong giới lãnh đạo đảng. Sự chòng chéo của các mối quyền lợi cá nhân này hiện vẫn chi phối vận mệnh đất nước. Ngay cả mức độ khác nhau của nỗ lực cống hiến cho việc bảo vệ chỗ đứng của đảng cũng không thể phân biệt một cách giản dị. Bởi ngày nay, “giữ đảng” chỉ là lý luận mặt nổi cho các toan tính “giữ quyền” của lãnh đạo ở mặt chìm. Cụ thể ra, thuần chính trị mà nói, cách ứng xử chung là bám đảng chứ không giữ đảng. Còn xu thế chung lại thuộc về kinh tế, là giữ của (để thành tư sản đỏ) chứ không phải giữ đảng (để thành vô sản đỏ).. Sự mò mẫm tìm hướng đi mới của giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam sau khi Liên Xô tan rã, đã tạo ra tình trạng lập ê kíp riêng phát triển mạnh mẽ, gây ra những mâu thuẫn gay gắt trong đảng, với nhiều phe nhóm xuất hiện. Vào lúc đó, có hai phe kình chống nhau một cách gay gắt và còn tiếp tục kéo dài cho đến hôm nay gồm: Phe Đỗ Mười, Lê Đức Anh (thân Trung Quốc và có quan điểm giáo điều); Phe Võ Văn Kiệt (thân Tây phương và có quan điểm đẩy mạnh theo xu hướng thị trường).

Entry filed under: Tài Liệu Dân Chủ. Tags: , .

(03) – Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu Giải Nobel Hòa bình 1964

2 phản hồi Add your own

  • 1. Mars Free Games - Free Games Online - Free-Games-247  |  Tháng Mười Một 20, 2008 lúc 3:00 sáng

    Thanks, keep up your great post !

    Trả lời
  • 2. ngoan  |  Tháng Ba 25, 2009 lúc 4:48 sáng

    cháu đang tìm tài liệu về công cuộc cải tổ ở liên xô và quan hệ với đổi mới ở việt nam, chú có tài liệu về vấn đềnày xin chú giúp dùm cháu. cháu xin cám ơn chú nhiều!

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lưu trữ

Bài viết mới

Tháng Mười 2008
M T W T F S S
« Sep   Nov »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

%d bloggers like this: