(06) Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

Tháng Ba 28, 2009 at 3:47 sáng Để lại bình luận

Lý Thái Hùng

JPEG - 6.2 kb
Ông Bùi Tín

Tháng 11-1990, trong dịp đến Paris tham dự hội nghị quốc tế, ông Bùi Tín, Phó tổng biên tập Nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản đã gửi một kiến nghị gồm 12 điểm cho đảng Cộng sản Việt Nam qua làn sóng của đài phát thanh BBC tối ngày 27. Vào lúc đó, mặc dù ông Bùi Tín đề cập những sai lầm của chế độ và đề nghị cải sửa; nhưng ông vẫn khẳng định là người trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và với tư cách một đảng viên. Nhưng sau hơn 12 năm sống lưu vong tại Paris, lập trường và quan điểm hiện nay ông Bùi Tín đã thay đổi và không còn tin vào đảng, vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thậm chí ông còn tuyên bố từ bỏ tất cả những huy chương hay những khen thưởng mà ông nhận từ chế độ. Trong kiến nghị 12 điểm đưa ra cách nay 13 năm, ông Bùi Tín đã đề cập đến một vài điểm đáng quan tâm:

1/Tình hình đất nước chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện nghiêm trọng; thời gian gần đây nhiều mặt còn xấu thêm làm cho cuộc sống của nhân dân thêm gay gắt. Do đó, tôi thấy việc thảo luận, hoàn chỉnh hai văn kiện “Cương lĩnh và Chiến lược” nên để thư lại một thời gian; cần tập trung trước hết vào những công việc lớn trước mặt, vài ba năm hoặc năm năm tới – nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng đạt được thế ổn định để bước vào thời kỳ phát triển…

2/Hai nhiệm vụ chiến lược được xác định trước đây là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đến nay, tình hình đã thay đổi, nên xác định một nhiệm vụ chiến lược bao trùm là xây dựng lại và phát triển đất nước về mọi mặt sau chiến tranh.

3/Chúng ta đã phạm những sai lầm: chủ quan, duy ý chí, nôn nóng và vội vã cho nên đã vấp ngã. Muốn đi nhanh, hoá ra đi chậm và lâm vào khủng hoảng. Cần bình tĩnh và tỉnh táo. Cũng như trong đời sống hàng ngày khi đi đường cũng có lúc cần biết lùi lại hoặc đi vòng để tìm con đường hợp lý ngắn nhất đạt đến đích. Biết lùi khi cần để tiến lên là sáng suốt, không có gì phải hổ thẹn. Trên tinh thần đó, lúc này, nên xây dụng chế độ dân chủ thật sự có tính chất nhân dân…. Tên nước cũng nên trở lại là Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tên đảng nên trở lại với tên gọi đảng Lao động Việt Nam…. Không nên đặt mục tiêu quá xa trong khi mục tiêu gần còn cần một thời gian dài mới có thể đạt được.

4/Trong đường lối đối ngoại, Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, không liên kết và hợp tác với tất cả các nước; thực hiện đầy đủ trách nhiệm và quyền lợi của một nước thành viên Liên hiệp quốc; chủ trương hoà giải thật sự với những nước trước đây từng có chiến tranh với Việt Nam như Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc, kiên quyết giở sang trang sử mới trong quan hệ với các nước đó.

Những quan điểm của ông Bùi Tín đã có một số tác dụng nhất định lên hàng ngũ đảng viên cao cấp trong đảng Cộng sản Việt Nam và có người đã phản ứng cho rằng việc làm của ông chẳng khác nào như “trứng chọi đá”. Vì thế sau khi phổ biến kiến nghị 12 điểm, ông Bùi Tín đã viết một bài tham luận khác, bày tỏ một số quan điểm rốt ráo hơn. Lúc đó, ông Bùi Tín đã viết rằng: “Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, trì trệ và đổ vỡ chủ yếu chính là vì đã bỏ qua, phớt lờ, không thực hiện những nội dung thực chất của cuộc cách mạng tư sản dân quyền. Những quyền tự do dân chủ ở đó trên thực tế đã quá thấp hơn rất nhiều so với các nước tư bản: tự do ngôn luận và tư tưởng; tự do tín ngưỡng; tự do lập hội, lập chính đảng, hội họp, mít tinh, tuần hành, tự do cư trú di chuyển( kể cả ra nước ngoài); tự do bầu cử, tự do xuất bản và báo chí; tự do kinh doanh và cạnh tranh; tự do sáng tạo nghệ thuật và văn hoá… Bỏ lửng nội dung dân chủ của cuộc cách mạng tư sản dân quyền để gọi là “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội” là một việc làm trái quy luật, duy ý chí khổng lồ, thủ tiêu trên thực tế những quyền chính đáng của công dân; từ dưới đất, không chịu qua tầng 2 lại muốn lên ngay tầng 3, có hoạ là mất trí, chính chủ trương trái quy luât, viển vông duy ý chí ấy là lấy trứng chọi với đá. Thái độ chủ quan duy ý chí, áp đặt, phản khoa học như thế mang mầm móng thất bại chủ yếu……”

JPEG - 6.8 kb
Giáo sư Nguyễn Khắc Viện

Đầu năm 1991, trong lá thư gửi cho Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc đề ngày 6-1-1991, Giáo sư Nguyễn Khắc Viện đã đề nghị đại hội lần thứ VII của đảng Cộng sản tập trung giải quyết hai vấn đề: 1/Cương quyết tuyên bố đảng trả lại mọi quyền hành cho các cơ quan dân cử và nhà nước. Cụ thể hoá là giải thể một loạt bộ phận trực thuộc trung ương cũng như cấp ủy trong các địa phương, trả lại Nhà nước một loạt nhà cửa, chuyển sang khoảng 2/3 cán bộ. 2/Các đồng chí lãnh đạo tối cao các ban trung ương hiện nay tự nguyện rút lui, nhường chỗ cho những người mới. Về tình hình, Giáo sư Nguyễn Khắc Viện còn có ý kiến như: “Kinh tế tư nhân sẽ phát triển, các hãng quốc tế sẽ đầu tư. Đó là xu thế không thể cưỡng, làm cho khoa học kỹ thuật tiên tiến, một số người phát huy khả năng. Để phục vụ cơ cấu kinh tế đó, phải có ba bộ phận a/bộ máy quản lý kinh tế; b/bộ máy nhà nước cai trị; c/bộ máy văn hoá tư tưởng). Đã là kinh tế thị trường, lấy lãi làm gốc thì không nói chuyện nhân nghĩa. Cần phải phát huy quyền tự do dân, công bằng – xã hội, bảo vệ môi trường, tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do lập hội để tổ chức cuộc sống ngoài vòng ràng buộc của bộ máy nói trên. Hiện nay, đảng đang đi ngược lại. Thiếu dân chủ trong đảng, trong xã hội đã dẫn đến đẩy những người tâm huyết (như Bùi Tín, Dương Thu Hương và những đồng chí trước đây như Lê Liêm, Ung Văn Khiêm, Đặng Kim Giang) ra ngoài, biến thành đối lập và làm nản lòng một bộ phận lớn”.

Ngày 22-1-1991, ông Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện triết học Mác Lê, người từng bị Lê Duẩn giam 17 năm tù từ năm 1964 vì bị ghép vào nhóm “chống đảng xét lại”, đã viết một bài góp ý về dự thảo Cương lĩnh với 5 đề nghị rất thẳng thắn đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài góp ý, ông Hoàng Minh Chính đã bác bỏ dự thảo Cương lĩnh và cho rằng: “nội dung của dự thảo đã đánh giá tình hình thế giới theo mô hình giáo điều tả khuynh từ cách đây 30 – 40 năm, không nêu bật lên được điểm cơ bản nhất và mới mẻ nhất của thời đại mới ngày nay thuộc nửa sau thập kỷ 90. Do đó Cương lĩnh mắc phải mâu thuẫn trong nội dung, rắm rối trong trình bày, lập lại các quan điểm lỗi thời, vừa bi quan, vừa lạc quan vô căn cứ, thiếu nhất quán dẫn tới định hướng đường lối chiến lược cách mạng không phù hợp, thậm chí trái ngược tiến trình chủ đạo của thế giới loài người thời đại mới ngày nay”. Ông cho rằng: “trong 45 năm nay, chủ nghĩa xã hội thế giới lại lâm vào các cuộc khủng hoảng kinh tế- chính trị – tư tưởng – xã hội – đạo lý tiềm ẩn trầm trọng triền miên – rồi nổ tung ra công khai trong vài năm gần đây, dẫn tới sự đổ vỡ tan tành của một loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vẫn được coi là mạnh nhất trước đây. Liên Xô cũng đang trải qua cuộc khủng hoảng toàn diện nghiêm trọng… Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực tan vỡ trước mắt toàn thể nhân loại, thậm chí chỉ trong vòng có một năm (1989) do chính nhân dân các nước ấy tự nguyện phế bỏ. Như vậy, không thể gán ghép tuỳ tiện khiên cưỡng rằng đó là do chủ nghĩa tư bản đế quốc tấn công từ bên ngoài bằng “diễn biến hòa bình”. Phải dũng cảm tỉnh táo mà nhận rằng, dù có cay đắng đến đâu đi nữa, đó là do căn bệnh ung thư tiềm ẩn trong cơ thể xã hội chủ nghĩa tới độ chín nẫu vỡ tung ra”.

JPEG - 8.4 kb
Ông Hoàng Minh Chính

Ông Hoàng Minh Chính cũng viết rằng: “Dự thảo Cương lĩnh chính trị cũng thiếu xuất phát từ thực tại khách quan Việt Nam mà chỉ lấy hệ tư tưởng trừu tượng làm tiền đề. Dự thảo Cương lĩnh nhận định đúng rằng nước là một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nền kinh tế chủ yếu sản xuất nhỏ mà Liên hiệp quốc hiện nay phải xếp vào hàng một trong mười nước nghèo khó nhất trong tổng số 160 nước thành viên. Tuy nhiên dự thảo Cương lĩnh lại viết “nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội… bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu cũ vượt xa hơn Việt Nam về toàn diện tới cả nửa thế kỷ, mà họ còn thua kém tới vài thập kỷ so với Tây Âu, nay nhân dân họ đang phải xét lại phương hướng đường đi của đất nước mình. Việt Nam, với nền kinh tế tiền tư bản cực kỳ lạc hậu muốn bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội – vậy bằng cách nào? Sau khi phân tích những kẽ hở của dự thảo Cương Lĩnh, ông Hoàng Minh Chính đã đưa ra 5 đề nghị:

1/Kiên quyết từ bỏ phương pháp luận giáo điều Mao-ít, không lấy hệ tư tưởng trừu tượng bất kể là gì làm tiền đề xuất phát, mà phải lấy thực tại cuộc sống của nhân dân, lấy yêu cầu nguyện vọng cháy bỏng của các giai cấp xã hội Việt Nam đang rên xiết trong cuộc đại khủng hoảng toàn diện hiện nay, làm đối tượng mà vạch ra đường lối, chiến lược, sách lược…

2/Phát huy mạnh mẽ tới hết cỡ các tiềm năng, vật lực, nhân lực, tài lực trí tuệ phong phú của tất cả các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, sắc tộc trong nước và Việt kiều, từ nhà tư bản, nhà hữu sản đến người công nhân, nông dân, trí thức miền xuôi, miền núi theo đúng chính sách 5 thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, không bao cấp, chống độc quyền. Pháp chế hoá các chính sách. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải phục tùng các quy luật cung cầu, cạnh tranh công khai hợp pháp, năng động sáng tạo, lợi nhuận cao, phải tư nhân hoá và đa dạng hoá sở hữu.

GIF - 19 kb

3/Tháo gỡ tích cực mấy vấn đề quan hệ quốc tế nóng bỏng nhất, theo tư duy mới của thời đại như Liên hiệp quốc đã đề xướng, để mở đường cho sự đầu tư vốn từ ngoài, để tiếp thu kỹ thuật công nghệ hiện đại, và kinh nghiệm quản lí năng động sáng tạo của các nước tư bản phát triển, NICs và ASEAN. Xây dựng vài đặc khu kinh tế tự do dọc duyên hải bằng vốn nước ngoài. Mạnh dạn quyết tâm vươn lên thành con rồng thứ 5 hoặc thứ 6 trong 1-2 thập kỷ tới.

4/Mạnh dạn gác lại mục tiêu coi là “trước mắt và lâu dài là xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Cần nghiên cứu cẩn trọng, lâu dài, không vội vã. Bởi vì chủ nghĩa xã hội trên lý thuyết do Mác – Ăng-ghen – Lênin sáng lập chỉ mới ở dạng tư duy trừu tượng, giả định. Bản thân của các ông cũng đã phải thay đi đổi lại nhiều lần và nhiều dự báo của các ông đã bị thời gian phủ định…

5/Đảng phải pháp chế hoá quyền lực của mình bằng điều 4 ghi trong hiến pháp năm 1980 rằng: “đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội”. Quyền lực tuyệt đối này đã được các cán bộ đảng các cấp, đặc biệt là các cán bộ thoái hoá biến chất, dùng làm vũ khí lộng quyền, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, đàn áp dân, lừa dối, đạo đức giả. Các cán bộ đảng cấp từ trung ương xuống tận cơ sở, họ là nguòi thay mặt đảng, quyền lực tuyệt đối của đảng trở thành quyền lực tuyệt đối của cá nhân họ, nhất là của các Ủy viên thường vụ, đặc biệt là của bí thư – lời họ nói là lời đảng nói…. Cũng do điều 4 đó của hiến pháp mà cấp ủy đảng đứng cao trên hết, trùm lên hết và ra lệnh cho tất cả các cơ quan bộ máy nhà nước, từ cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp tới cơ quan lập pháp; khỏi nói tới các đoàn thể quần chúng và Mặt trận…

Những đề nghị của ông Hoàng Minh Chính rất thẳng và trực diện vào vấn đề nên đã gây khá nhiều lúng túng cho những cán bộ lý luận của đảng Cộng sản vào thời đó. Đây cũng là yếu tố khiến ông bị chế độ Hà Nội cho công an sách nhiễu ông và gia đình liên tục đến những năm sau này, đồng thời liên tục bị các cán bộ phụ trách công tác lý luận mang lên trên mặt báo tấn công bằng những diễn dịch sai lạc và giáo điều.

JPEG - 3.8 kb
Tiến Sĩ Phan Đình Diệu

Cũng trong thời gian này, tuy không viết dưới dạng của một bài góp ý về bản Dự thảo Cương lĩnh, Tiến Sĩ Phan Đình Diệu, một thành viên của đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc vào lúc đó đã gửi đến Trung ương đảng một “kiến nghị” có tên là “Kiến nghị về một chương trình cấp bách nhằm khắc phục khủng hoảng và tạo điều kiện lành mạnh cho sự phát triển đất nước”. Đi từ những nhận định về thực trạng khủng hoảng, Tiến Sĩ Phan Đình Diệu cho rằng sau năm 1975, đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng vội vã mô hình chủ nghĩa xã hội, đã làm tê liệt phần lớn những năng lực thực sự của đất nước, đồng thời tạo ra sự hỗn loạn và dối trá trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội. Khi đảng đưa ra chính sách đổi mới từ năm 1986, tuy có mang lại kết quả là làm cho cuộc sống đỡ bị trói buộc và dễ thở hơn; nhưng những chính sách và biện pháp đổi mới ngập ngừng, nửa vời chưa đủ sức khơi dậy và phát huy đầy đủ những yếu tố tích cực, trong khi các yếu tố tiêu cực cũ lại có cơ hội đưọc bổ sung thêm bởi những yếu tố tiêu cực mới. Từ những phân tích này, Tiến Sĩ Phan Đình Diệu đề nghị đảng phải nhất quán trong việc xác định mục tiêu hiện thực cho sự phát triển đất nước. Mục tiêu đó là xây dựng “một nền kinh tế thị trường phát triển và một chế độ chính trị dân chủ, đoàn kết và hoà hợp dân tộc”.

Theo Tiến Sĩ Phan Đình Diệu thì việc xác định mục tiêu nói trên là phù hợp với xu thế chung của thời đại, là mục tiêu phấn đấu của nhiều dân tộc. Ông cho rằng, từ năm 1986, đảng Cộng sản chuyển dần theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; nhưng vì bị vướng mắc giữa đòi hỏi khách quan thoát khỏi khủng hoảng và những mong muốn chủ quan tiếp tục quan điểm cũ về chủ nghĩa xã hội với chế độ quản lý tập trung, sở hữu nhà nước và kinh tế quốc doanh. Do đó đã nảy sinh nhiều khái niệm tự mâu thuẫn như: nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch, nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Theo ông nếu đảng Cộng sản Việt Nam “chọn kinh tế thị trường là hướng đi tới thì cần tạo mọi điều kiện thuận lợi và khuyến khích cho nó nhanh chóng hình thành và phát triển, chứ không nên đối xử ghẻ lạnh bằng những phân biệt và hạn chế. Kinh tế thị trường phát triển khi trong xã hội có sự tự do trao đổi hàng hoá giữa đông đảo các chủ thể kinh tế”. Để nền kinh tế thị trường đáp ứng đúng các chức năng của nó, Tiến sĩ Phan Đình Diệu còn đề nghị thực hiện một chế độ chính trị tôn trọng các quyền tự do dân chủ của mỗi người dân. Ông cho rằng “Chế độ chính trị dân chủ với việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân tự nó đã bao hàm sự thừa nhận tính đa nguyên. Đa nguyên là sự phản ảnh trung thực thực tiễn khách quan của xã hội vào thể chế chính trị. Dân chủ chỉ là sự tôn trọng tính trung thực của sự phản ảnh đó. Phủ nhận tính đa nguyên cũng đồng thời là phủ nhận nền dân chủ. Cần phải nhìn nhận một thực tế là không thể có dân chủ thật sự trong một chế độ có quy định trước sự độc quyền lãnh đạo tập trung của một đảng”.

Trong phần cuối của bản Kiến Nghị, Tiến Sĩ Phan Đình Diệu đã đề nghị một số giải pháp cấp bách mà theo ông là để khắc phục tình trạng khủng hoảng, tạo lập một hoàn cảnh lành mạnh tối thiểu cho sự hoạt động bình thường của một nền kinh tế thị trường mà ta muốn xây dựng, một nền chính trị dân chủ cho mọi năng lực trong xã hội được tự do phát triển, qua một số biện pháp như:

1/Về các giải pháp kinh tế – xã hội: đảng Cộng sản nên: a/Kiên quyết chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hoàn thiện hệ thống luật pháp phù hợp với với yêu cầu của kinh tế thị trường, đặc biệt là thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân. b/Tổ chức lại hệ thống bộ máy nhà nước để thực hiện được chức năng quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường. c/Tăng cường và hoàn thiện hệ thống tài chánh và ngân hàng.

2/Về cải cách chính trị: đảng Cộng sản Việt Nam trong các năm 1991 – 1992 nên: a/Mặt trận tổ quốc, được sự hỗ trợ của đảng Cộng sản Việt Nam, hiệp thương với mọi lực lượng của dân tộc, các nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước, để tiến hành đại hội dân tộc và các sinh hoạt chính trị có tính cách dân tộc khác, dưới tiêu đề và mục tiêu chung là đại đoàn kết và xây dựng đất nước. b/Cải tổ bộ máy nhà nước hiện nay, đặc biệt thành lập một chính phủ cải cách cho giai đoạn cấp bách 1991-1992, đó phải là một chính phủ mạnh gồm những người thực sự có năng lực và trí thức để thực hiện có kết quả các giải pháp kinh tế xã hội cấp bách; c/Thực hiện đầy đủ một số quyền tự do dân chủ, đặc biệt là các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội; d/Bầu cử Quốc hội thật sự tự do và công bằng vào năm 1992 hoặc đầu năm 1993. Quốc hội sẽ xây dựng và thông qua Hiến pháp quy định chế độ kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước và chế độ chính trị dân chủ.

Những đề nghị rất tâm huyết của Tiến Sĩ Phan Đình Diệu nói trên nếu được đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng một phần hoặc bán phần vào những năm này thì tình hình không những cải thiện mà đất nước Việt Nam sẽ có những chuyển biến sâu sắc trong thời gian qua. Tiếc thay, lãnh đạo Hà Nội không những không quan tâm đến nội dung Kiến nghị mà còn trù dập và cô lập các hoạt động của Tiến Sĩ Phan Đình Diệu vào những năm sau đó. Đặc biệt là sau khi Giáo sư Phan Đình Diệu trả lời một cuộc phỏng vấn của nhà sử học Na Uy là giáo sư S. Tonnesson, đăng trong một bài báo ở nước ngoài với tựa đề “Giáo sư Phan Đình Diệu: Từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, tiến tới nền dân chủ lưỡng đảng là con đường chuyển hoá đất nước trong ổn định”, liền bị báo Sài gòn giải phóng và báo Nhân Dân liên tục công kích một cách tàn tệ.

JPEG - 7.5 kb
Ông Hà Sĩ Phu

Trong tất cả những nhân vật viết các bài bày tỏ những quan điểm phê phán nội dung Cương Lĩnh cũng như đường lối đổi mới và sự phá sản của chủ nghĩa Cộng sản, ông Hà Sĩ Phu là người mà đảng Cộng sản Việt Nam căm thù nhất vì lối viết sắc bén và tấn công thẳng vào nền tảng lý luận của chủ thuyết Mác – Lênin, qua ba bài viết “Dắt tay nhau đi dưới những tấm bảng chỉ đường của trí tuệ” (tháng 8 năm 1988), “Đôi điều suy nghĩ của một công dân (tháng 5 năm 1993)” và “Chia tay ý thức hệ (tháng 8 năm 1995)”. Chính ba bài viết này, đặc biệt là bài tiểu luận Chia tay ý thức hệ đã khiến cho Hà Sĩ Phu bị đảng Cộng sản Việt Nam quản thúc liên tục từ năm 1997 cho đến nay, sau khi hứng chịu hàng loạt những bài công kích, phê phán và đả kích một chiều của guồng máy tuyên truyền Hà Nội từ trung ương cho đến địa phương.

Trong bài viết: “Dắt tay nhau đi dưới những tấm bảng chỉ đường của trí tuệ”, ông Hà Sĩ Phu đã vạch ra những sai lầm và những điều nghịch lý của chế độ xã hội chủ nghĩa giữa lý thuyết và thực tế. Ông Hà Sĩ Phu đã cho rằng chủ trương đề cao giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo xã hội là một sự ngụy biện của chủ nghĩa Mác và từ đó đã dẫn đến những nghịch lý của xã hội, đó là sự huỷ diệt tri thức. Nghịch lý này theo ông Hà Sĩ Phu là đã làm “Sản xuất không phát triển, năng suất lao động thấp, sản phẩm hàng hóa ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu…’. Ông còn cho rằng ’Khi người chỉ huy không đủ tri thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ: Một mặt rất muốn dùng những người trí thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên tâm tọa hưởng giữa nơi mập mờ, lùng nhùng, họ không dám thực sự nâng cao dân trí, không dám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Ánh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi…”

Trong bài viết “Đôi điều suy nghĩ của một công dân”, ông Hà Sĩ Phu đã nhận định rằng sự sụp đổ và tan rã các thể chế xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là ’sự sụp đổ có tính cội nguồn, triệt để và toàn cục’. Từ cái nhìn này, ông Hà Sĩ Phu đã phân tích mối tương quan giữa con người và xã hội trong cái nhìn của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, để phê phán những sai lầm của Mác trong các quan niệm về đấu tranh giai cấp, về bóc lột, về ý niệm quốc gia, về bạo lực cách mạng và về tiến hóa xã hội. Bên cạnh đó, ông Hà Sĩ Phu cũng đã đưa những suy nghĩ nói trên, đặt trong tính cách Việt Nam với ba sự nhận xét rất đặc biệt của ông như sau: 1/Việt Nam mạnh về nghĩa hợp quần, yếu về ý thức xã hội; 2/Đạo Trung Dung bị hạ thấp thành phương châm Yên thân, nhẫn nhục; 3/Chống chính thống bằng con đường không chính thống. Ba yếu tố này, theo ông Hà Sĩ Phu đã giúp cho người Việt Nam vượt qua khó khăn nhưng đã trả giá cho chúng bằng sự ’tha hóa con người, tha hóa dân tộc’. Trả giá bằng sự lưu manh hóa, không phải lưu manh theo nghĩa thông thường mà là sự lưu manh lịch sử. Do đó ông đã kết luận rằng: ’Từ bỏ một ý thức hệ độc tôn ngoại lai, không còn thích hợp với đất nước và thời đại là điều kiện thiết yếu để có thể xóa bỏ hận thù, góp sức, chung lòng đưa đất nước phát triển, là điều kiện thuận lợi để hòa nhập vào thế giới chung, và chỉ có thế dân tộc mới có khả năng thoát khỏi sự o ép của Tư bản nước ngoài.

(5) Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

(4) Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

(03) – Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

(02) – Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

(01) – Việt Nam Trước Cơn Bão Dân Chủ Tại Đông Âu

Entry filed under: Bất Bạo Động. Tags: .

ĐẾ QUỐC CỘNG SẢN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ (1) – Không chỉ có Moskva: Ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Âu và Bắc Việt thời kì hậu Stalin

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Lưu trữ

Bài viết mới

Tháng Ba 2009
M T W T F S S
« Feb   Apr »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

%d bloggers like this: